LỄ THƯỢNG LƯƠNG – CẤT NÓC: NGUỒN GỐC Ý NGHĨA VÀ MẬT MÃ TÂM LINH VĂN HOÁ
LỄ THƯỢNG LƯƠNG – CẤT NÓC: NGUỒN GỐC Ý NGHĨA VÀ MẬT MÃ TÂM LINH VĂN HOÁ
- Thượng Lương là gì?
Thượng Lương – 上梁 là thuật ngữ Hán Việt, “Thượng 上” là trên, “Lương 梁” là xà nhà. Nên hiểu là: đặt xà chính lên phần cao nhất của ngôi nhà. Thượng Lương là nghi lễ được cử hành khi lắp đặt cây xà lớn nhất, cao nhất trên mái nhà (còn gọi là Chủ Lương, Trung Lương, Đống) trong văn hóa truyền thống Đông Á, tùy theo phong tục từng địa phương mà còn gọi là Thượng Lương thức, Thượng Lương nghi thức, Thượng Lương thức, Thượng Lương nghi thức, Thượng Đống thức, Thượng Đống nghi thức, Thượng Đống tế.
Với những nhà cổ mái có kèo, xà, hoành dui, đó là ngày gác thanh giữa của nóc nhà. Với nhà hiện đại ngày nay được hiểu là ngày đổ trần lợp mái, hoặc đổ bê tông sàn mái. Trong hệ nhà gỗ cổ truyền, thanh xà nóc được ví như cột sống. Lễ Thượng Lương đánh dấu việc hoàn thiện hệ khung xương cao nhất, phần kết cấu mái coi như đã hoàn chỉnh, ngôi nhà chính thức có “hình hài”.

- Nguồn gốc – lịch sử
Nghi thức Thượng Lương đã tồn tại từ khi kiến trúc thổ mộc xuất hiện ở Trung Quốc cổ đại, nhưng mãi đến thời Ngụy Tấn mới có ghi chép văn hiến rõ ràng, đến thời Minh Thanh thì phổ biến rộng khắp Trung Quốc, và muộn nhất là vào niên hiệu Vạn Lịch đã hình thành một bộ nghi thức thành thục, hoàn chỉnh. Trong chuỗi nghi lễ dân gian về làm nhà và dời chỗ ở của Trung Quốc cổ đại bao gồm chọn đất, động thổ, dựng cột (cột giữa), thượng lương, dựng cửa, hoàn công và dọn vào ở, thì Thượng Lương là quan trọng nhất.


Văn bản ghi chép sớm nhất về nghi thức Thượng Lương hiện nay tàng bản ở Thiên Nhất Các – Ninh Ba. Đoạn Thượng Lương được chép như sau:
“凡造作立木上梁,候吉日良辰,可立一香案于中亭,設安普庵仙師香火,備列五色錢、香花、燈燭、三牲、果酒供養之儀,匠師拜請三界地主、五方宅神、魯班三郎、十極高真,其匠人秤丈竿、墨斗、曲尺,係放香桌米桶上,並巡官羅金安頓,照官符、三煞凶神,打退神殺,居住者永遠吉昌也”。
Phiên âm
“Phàm tạo tác lập mộc thượng lương, hậu cát nhật lương thần, khả lập nhất hương án vu trung đình, thiết an Phổ Am tiên sư hương hỏa, bị liệt ngũ sắc tiền, hương hoa, đăng chúc, tam sinh, quả tửu cung dưỡng chi nghi, tượng sư bái thỉnh tam giới địa chủ, ngũ phương trạch thần, Lỗ Ban tam lang, thập cực cao chân, kỳ tượng nhân xứng trượng can, mặc đẩu, khúc xích, hệ phóng hương trác mễ dũng thượng, tịnh tuần quan La Kim an đốn, chiếu quan phù, tam sát hung thần, đả thoái thần sát, cư trú giả vĩnh viễn cát xương dã”.
Dịch nghĩa:
“Phàm dựng cột cất nóc, phải chờ ngày lành giờ tốt, lập một án hương ở giữa nhà, thắp hương kính tổ Phổ Am tiên sư, bày đủ tiền ngũ sắc, hương hoa, đèn nến, tam sinh, rượu quả cúng dàng. Thợ cả bái thỉnh Địa chủ tam giới, Trạch thần ngũ phương, Lỗ Ban Tam Lang, Thập cực cao chân, các đồ nghề như sào đo, đấu mực, thước vuông đều đặt trên thúng gạo ở bàn hương, an bài tuần quan La Kim, soi chiếu quan phù, tam sát hung thần, đánh đuổi thần sát, người ở sẽ mãi mãi cát xương”.
Tại Việt Nam văn bản nghi chép cụ thể về Thượng Lương thì không thấy Thọ Mai Gia Lễ nguyên tác Hán văn do Hồ Sĩ Dương (1621-1681) soạn, là sách Gia Lễ chuyên về 4 lễ: Quan – Hôn – Tang – Tế, trong nguyên bản Hán văn Thọ Mai Gia Lễ không có chương riêng về Thượng Lương như Lỗ Ban Kinh. Lễ cất nhà được người Việt bổ sung sau này vào các bản Quốc ngữ, dựa trên Lỗ Ban Kinh và tục lệ làng xã.

Người kinh Bắc bộ gọi là lễ Thượng Lương – Cất Nóc, người Tày, Nùng ở Cao Bằng gọi là “Pe bân” hay “Pe chông mạ”, cũng có nơi gọi “mạy Thượng Lương” với hàm ý là “Cây may mắn”.
3. Ý nghĩa của lễ Thượng Lương
a. Về tâm linh: Là lời báo cáo thành kính gửi đến Thổ Thần, Thần linh, Tổ nghề mộc, gia tiên: Chúng con đã hoàn thiện bộ khung, xin chư vị chứng giám. Đồng thời là dịp bày tỏ lòng thành tới chư vị thần linh trông coi mảnh đất, mong tổ ấm được bảo vệ, giảm thiểu tai ương, bệnh tật.
b. Về phong thủy: Nghi lễ mang chức năng trấn trạch. Khi xà nóc được đặt đúng nghi thức, chọn đúng ngày giờ tốt lành, cắt dòng khí, khí tiết trong nhà sẽ được điều hòa, tà khí bị ngăn chặn, gia đạo hanh thông. Lễ cúng thượng lương (gác đòn dông) không chỉ để cầu mong thi công an toàn mà còn giúp gia chủ an cư lạc nghiệp, con cháu được che chở.
- Về xã hội: Là cột mốc kết thúc giai đoạn làm khung, chuẩn bị vào hoàn thiện, là dịp thợ cả, gia chủ, họ hàng làng xóm cùng chúc mừng, nhìn lại nỗ lực làm việc tích cóp.
- Vì sao lại có cành Vạn Tuế 2 đầu, có Nón?
Đây là chi tiết mà chỉ nhà ở Bắc Bộ và Trung Bộ xưa còn giữ rất kỹ, và là phần bị hiểu nhầm nhiều nhất.
Theo tư liệu điền dã tổng hợp trong Tiểu luận “Lễ tục cất nhà của người Việt” (Khoa Văn hóa học, ĐH KHXH&NV TP.HCM): Gia chủ nhờ một người trong thân tộc có gia đình hạnh phúc, cuộc sống dư giả, phát đạt, được tuổi, có đạo đức để đưa nóc chính của nhà được viết ngày tháng đặt nóc (cây đòn dông của người dân tộc) lên đặt.
Trong khi làm lễ, cây nóc (đòn dông) đó được buộc hai cành thiên tuế (hoặc Vạn tuế) một vài vuông vải đỏ hay lụa đại hồng có vẽ hình Bát quái, quyển lịch Tàu hay sách chữ Nho. Sao lại có những vật ấy, chúng ta cùng giải mã từng biểu tượng:
- Hai cành Vạn Tuế / Thiên Tuế buộc hai đầu nóc (đòn dông)
– Vạn Tuế = Vạn năm, Thiên Tuế = Nghìn năm: Cây vạn tuế xanh quanh năm, tuổi thọ hàng trăm năm, lá cứng không rụng. Buộc vào 2 đầu thanh nóc (đòn dông) là gửi gắm ước vọng ngôi nhà bền vững “vạn vạn thiên thu”, như lời khấn của người Tày: “Tặt Thượng Lương xày mắn / Xày mắn hơn phya / Vạn vạn thiên thu” (Đặt Thượng Lương vững hơn núi, bền đời đời).

– Hai đầu = Âm Dương cân bằng, Trừ tà: 2 đầu thanh nóc (Đòn dông) là trục trung tâm nối Trời – Đất, rất dương. Vạn tuế là loại cây có tính dương mạnh, lá nhọn như gươm, theo dân gian có tác dụng trừ tà, ngăn sát khí. Buộc đối xứng hai đầu tạo thế cân bằng.
- Tấm vải lụa đỏ / vải điều
Không thể thiếu trong lễ: Một tấm vải lụa đỏ dùng để bọc hoặc treo lên thanh nóc. Màu đỏ tượng trưng cho hỷ khí, giúp trấn áp tà khí và mang lại may mắn. Trên dải vải đỏ này thợ cả ghi niên đại xây dựng như “tờ khai sinh” của ngôi nhà. Hoặc thầy pháp ghi các chữ Hán trừ tà ví dụ như: Thái Công khương tại thử,
- ý nghĩa chiếc Nón
Có hai cách hiểu, cả hai đều gặp ở thực tế Bắc Bộ:
Một là, Nón của cây Vạn Tuế: Thực vật học gọi cụm bào tử của vạn tuế là “nón” – nón đực và nón cái. Dân gian buộc cả cành kèm nón để lấy ý “có hoa có quả”, sinh sôi, với ước vọng gia đình đầy đủ nam nữ, con cháu dài dòng.
Hai là, Chiếc nón lá / nón mới treo kèm: Trong nhiều gia đình ở Đồng bằng Bắc Bộ, cùng với cành vạn tuế, người ta treo kèm 1 chiếc nón lá mới, một vuông vải đỏ vẽ Bát Quái và một quyển lịch. Nón tượng trưng cho sự che chở, “đội” cho nóc nhà, che mưa nắng cho gia đình. Đây là biến thể của tục treo lá bùa Bát Quái để trấn trạch.
- Cách thức bày lễ – văn khấn
- Chọn ngày giờ
– Ngày: Chọn ngày Hoàng Đạo, hợp tuổi gia chủ. Tránh ngày Tam Nương 3, 7, 13, 18, 22, 27 âm; ngày Nguyệt Kỵ 5, 14, 23 âm; ngày Thụ Tử, Sát Chủ.,v.v…
– Giờ: Chọn giờ Đại Cát, giờ Hoàng Đạo. Phải hợp tuổi gia chủ hoặc người mượn tuổi làm nhà.
– Người thực hiện: Gia chủ hoặc người mượn tuổi. Phụ nữ mang thai, người có tang nên tránh mặt lúc làm lễ.
- Sắm lễ vật – Mâm cúng Thượng Lương – Đặt nóc
– Mâm lễ đặt ở vị trí trung tâm ngôi nhà, tốt nhất là ngay dưới vị trí sẽ gác thanh đòn chính, hoặc trên tầng đổ trần.
– Lễ gồm: Gà luộc: 1 con gà trống tơ, luộc cánh tiên, ngẩng cao đầu. Đặt quay đầu vào bát hương. Xôi gấc/xôi đậu xanh: Tượng trưng may mắn, no đủ. Hai lọ hoa, 2 đĩa ngũ quả. Trầu cau: 3 miếng trầu têm + 3 quả cau bổ, hoặc 1 đĩa trầu cau têm cánh phượng. Rượu trắng: 3 chén. Chè, thuốc lá. Hương, nến đỏ, đèn dầu. Gạo hũ, muối hũ, nước sạch. Vàng mã. Tiền vàng, quần áo Quan Thần Linh màu đỏ, mũ hài đầy đủ.
Cách bày: Mâm lễ đặt trên bàn vững chãi, hướng ra phía trước nhà. Giữa bàn đặt lư hương, hai bên là nến/đèn. Gà đặt giữa, xôi chè phía trước, trầu cau, rượu, hoa quả bày xung quanh. Dải vải đỏ, cành thiên tuế, thước, mực để cạnh mâm, lát nữa sẽ dùng.
Nghi thức thực hiện
Bước 1: Cúng lễ
Đến giờ hoàng đạo, gia chủ ăn mặc chỉnh tề, thắp hương, theo thầy lễ, hoặc tự lễ thì vái rồi quay vào mâm cúng đọc văn khấn. Đội thợ giữ trật tự.
Bước 2: Thượng Lương
Sau tuần hương, thợ cả và gia chủ phối hợp đưa thanh xà nóc lên vị trí cao nhất. “Thượng” nghĩa là lên, “Lương” nghĩa là xà nhà. Xà phải vào đúng khớp mộng, không lệch một li. Nếu là đổ bê tông thì gia chủ hoặc người được tuổi đổ 4 góc và ở giữa, xong đội thi công tiếp tục đổ bê tông.

Bước 3: Tán lộc & Vào vải đỏ
Xà vừa vào chỗ, dùng tấm lụa đỏ quấn quanh hoặc treo lên đòn dông. Hai đầu đòn dông được buộc cành thiên tuế và bọc vải đỏ để hóa giải sát khí chĩa sang nhà hàng xóm. Gia chủ tán lộc từ trên cao xuống: tiền lẻ, bánh kẹo cho thợ và người thân hứng.
Bước 4: Hóa vàng, thụ lộc
Hương cháy hết thì hóa vàng. Gạo muối rải ra xung quanh khu đất, không rải ngược vào nhà. Cùng nhau chúc mừng và thụ lộc hoa quả.
- VĂN KHẤN LỄ THƯỢNG LƯƠNG – CẤT NÓC
– Nam mô A Di Đà Phật!
– Nam mô A Di Đà Phật!
– Nam mô A Di Đà Phật!
Cung duy:
– Hoàng thiên Hậu Thổ, chứng giám lòng thành;
– Bản cảnh Thành hoàng, lai lâm tọa trấn;
– Ngũ phương Long Mạch, Tôn thần hội đồng;
– Đương niên Đương cảnh, Thái Tuế chí đức;
– Táo phủ Thần quân, Định phúc an ninh;
– Lỗ Ban Tiên Thánh, Thập Cực Cao Chân;
– Liệt vị Tổ sư mộc nghệ, bách công bách nghệ chi thần.
– Hôm nay, tuế thứ Bính Ngọ niên, …… nguyệt, …… nhật.
– Tại: …… tỉnh, …… huyện, …… xã, …… thôn.
– Tín chủ con là: …………………… đồng hiệp toàn gia nam nữ tử tôn đẳng.
Cẩn dĩ: Hương hoa đăng trà, kim ngân phẩm vật, thanh chước phù tưở, phì chưng mỹ soạn, tam sinh ngũ quả, tửu lễ xôi gà, phù lưu thanh chước, kim tiền minh y, cập chư cúng vật chi nghi.
Thành tâm kính cáo:
– Nhất giả, thừa phúc ấm tổ tiên, mông ân thiên địa;
– Nhị giả, đắc cát thời lương nhật, hợp vận hợp niên;
– Tam giả, tập thợ thuyền lương mộc, tòng quy tòng củ.
Nay đã:
Thụ trụ dĩ kiên, lập trụ dĩ chính;
Thượng lương dĩ khởi, hoành đòn dĩ an;
Càn khôn định vị, vũ trụ lập thành.
Vậy nên:
Phụng thiết hương án trung đình;
Cung trần lễ bạc thượng trình;
Ngưỡng tạ:
Thượng dĩ an thiên, hạ dĩ an địa;
Tiền dĩ nghinh tường, hậu dĩ nạp phúc;
Tả chiêu tài lộc, hữu nạp cát xương.
Cúi xin:
Thần kỳ lai cách, giám thử tinh thành;
Thụ hưởng lễ vật, chứng minh công đức;
Phù trì thượng lương, vĩnh trấn trạch trung;
Thiên tuế an cư, vạn niên cát khánh.
Nguyện cầu:
Gia đình hương vượng, bách nghiệp hanh thông;
Nhân khang vật phụ, lục súc hưng vượng;
Đinh tài lưỡng vượng, gia đạo bình an;
Tai ương tống khứ, phúc lộc tiến lai;
Tử hiếu tôn hiền, môn đường đại xương vinh.
Thượng lương dĩ định, cơ nghiệp dĩ thành;
Thiên niên thiết thạch, vạn cổ trường xuân.
Phục duy:
Cẩn cáo!




