Diễn văn tưởng niệm, cầu siêu anh hùng liệt sĩ.

101
24/07/2026

DIỄN VĂN

Tưởng niệm – Cầu siêu – Tri ân các Anh linh các Anh hùng Liệt sĩ. Nhân kỷ niệm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7)

(ĐĐ Chánh Thuần soạn)

Kính thưa anh linh các anh hùng Liệt sĩ qua các thời kỳ lịch sử đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của dân tộc!

Hôm nay, trong không khí thiêng liêng của những ngày tháng Bảy – mùa tri ân và báo ân của dân tộc Việt Nam, tại Nghĩa trang Liệt sĩ …………….., Chùa …………….. phối hợp cùng …………….., trang nghiêm tổ chức Chương trình Tri ân – Tưởng niệm – Cầu siêu Anh hùng Liệt sĩ. Trước anh linh các Anh hùng Liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, toàn thể Tăng Ni, Phật tử, quý đại biểu và nhân dân thành kính dâng hương tưởng niệm, bày tỏ lòng biết ơn sâu nặng, nguyện tiếp nối truyền thống yêu nước, giữ gìn hòa bình và xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường.

Trải suốt hơn bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử dân tộc Việt Nam là bản anh hùng ca bất diệt của lòng yêu nước, ý chí độc lập, khát vọng hòa bình và sức mạnh đại đoàn kết. Từ thời đại Hùng Vương dựng nền Văn Lang, mở vận quốc gia; qua hào khí Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế khẳng định nền tự chủ; khí phách Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hậu Lê hun đúc non sông Đại Việt; hào hùng Tây Sơn quét sạch ngoại xâm, thống nhất sơn hà; đến thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ, dân tộc ta đã làm nên những chiến công hiển hách, viết tiếp những thiên anh hùng ca bất hủ, đưa đất nước từ thân phận nô lệ đến độc lập, tự do, thống nhất và vững bước trên con đường phát triển. Mỗi trang sử vàng của dân tộc đều được viết bằng trí tuệ, lòng quả cảm, mồ hôi, nước mắt và máu xương của biết bao thế hệ tiền nhân, để núi sông Việt Nam mãi trường tồn, văn hiến Việt Nam mãi tỏa sáng và khí phách Việt Nam mãi rạng ngời cùng năm tháng.

Trong giờ phút thiêng liêng và xúc động này, chúng ta thành kính tưởng niệm công đức các Vua Hùng cùng các bậc tiền nhân đã có công dựng nước; tưởng nhớ các bậc minh quân, anh hùng dân tộc, danh tướng, trung thần, nghĩa sĩ đã có công mở nước, giữ nước và bảo vệ giang sơn qua các triều đại; thành kính tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu – Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới; tưởng nhớ các bậc tiền bối cách mạng, Anh hùng liệt sĩ, các Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, các thương binh, bệnh binh, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, lực lượng vũ trang và hàng triệu Anh hùng Liệt sĩ – những người đã hiến dâng trọn đời mình để Tổ quốc Việt Nam mãi trường tồn, Nhân dân được sống trong hòa bình, độc lập, tự do và hạnh phúc.

Thường nghe:

Quốc có sử để lưu truyền muôn thuở.

Dân có nghĩa để bền vững nghìn thu.

Thế hệ hậu côn hôm nay:

Đốt nén tâm hương, tri ân anh linh các anh hùng liệt sĩ

Dâng lời tưởng niệm, tạc dạ công đức bậc vị quốc vong thân.

Nhớ thuở xưa!

Thời mở đất, trăm họ một lòng, núi Nghĩa Lĩnh hiên ngang, định hình đất nước

Buổi dựng trời, vạn quân một dạ, Cờ chính nghĩa hào khí, mở vận Hồng Bàng

Các vua Hùng dựng nước

Những con Lạc đắp nền

Hai Bà Trưng khởi nghĩa, đầy nghiệp xưng vương, Nữ kiệt oai hùng, đuổi quân Đông Hán.

Lý Nam Đế tự hiền, khai cơ lập quốc, minh quân lỗi lạc, phá giặc Nhà Lương.

Thúc Loan đánh đuổi quân Đường

Bố Cái dựng cờ đánh đất

Khúc Thừa Dụ chiếm quyền tự chủ

Dương Đình Nghệ lấy lại Tống Bình

Và rồi!

Thục Quốc sơn hà nguyên Cổ Việt,

Loa Thành cung tấm xướng Tiền Ngô

Cọc nhọn cắm sông tan giặc Bắc,

Thuyền thù đắm xác lấp trường dương.

Một phen phá trận vang trời đất,

Ngàn thu rạng rỡ bậc Ngô vương.

Tiếp nối hào khí:

Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn mười hai sứ quân

Lê Đại Hành phá tan vạn quân nhà Tống

Lý Thái Tổ viết Thiên chiếu dời đô:

“Xét đất ở trung tâm, được cái thế rồng cuộn hổ ngồi; Chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông hiểm yếu. Thật là chỗ tụ hội của bốn phương đất nước, là nơi xứng đáng muôn đời để vương đóng đô vậy”

Đến Lý Thường Kiệt viết tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!

Cho đến, Hào khí Đông A, Quốc Công Tiết Chế, Nhân Vũ, Hưng Đạo Đại Vương hào hùng lời hịch:

“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; Chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù, chưa rửa nhục cho nước. Nếu các ngươi biết suy nghĩ, thì nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, đem sức tàn đánh giặc, cứu lấy nước nhà; dù chết cũng được tiếng thơm muôn thuở”

Quả thực:

Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí,

Lục đầu vô thủy bất thu thanh.

Nam thiên ổn cố, anh linh tụ

Việt địa trường tồn, chính đạo chiêu

Hưng Đạo ba lần dẹp Nguyên Mông

Nhân Tông trị vì yên xã tắc

Vua Lê Lợi tiếp bước:

Lẫm liệt đỉnh Xuân sừng sững, đất Lam sơn tự dậy nguyên khí

Róc rách vực Thọ chảy dài, dòng sông Chu mãi sáng đạt đào

Công Vua Lê nghìn năm sáng tỏ

Trí Vua Lê muôn thuở chiếu soi

Thiên cổ hùng văn, Bình Ngô đại cáo, Bản tuyên ngôn độc lập lần hai mãi sáng sử xanh:

“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

Như nước Đại Việt ta từ trước,

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

Núi sông bờ cõi đã chia,

Phong tục Bắc Nam cũng khác.

Bởi thế:

Vạn cổ anh phong

Địa linh nhân kiệt

Quang Trung thần tốc

Quân giặc lụi tàn

Thần vô duy dương

Uy danh bách thắng

Thời kỳ Pháp thuộc, hỡi ôi!

Súng giặc đất rền;

Lòng dân trời tỏ.

Mười năm công vỡ ruộng, chưa một giờ đặng ngựa xông tên;

Trăm trận giặc bày binh, có một trận khom lưng đội đạn.

Thời đại Hồ Chí Minh, thời đại vàng son lịch sử!

Thời đại Hồ Chí Minh – thời đại rực rỡ của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội! Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh dân tộc hòa quyện với sức mạnh thời đại, kết thành ý chí đại đoàn kết của toàn dân. Chân lý bất hủ: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do; thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ” đã trở thành lời hiệu triệu thiêng liêng, làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do cho dân tộc.

Từ tinh thần ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu; Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối; anh dũng bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, tiêu biểu là sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam tại Gạc Ma năm 1988. Đó là thắng lợi của lòng yêu nước, ý chí quật cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, của chính nghĩa và khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, khẳng định bản lĩnh bất khuất của dân tộc Việt Nam trước mọi thử thách của lịch sử.

Bởi thế:

Máu đào kết nghĩa non sông.

Xương trắng dựng thành Tổ quốc.

Một tấc đất là một tấc thiêng liêng.

Một dòng sông là một dòng lịch sử.

Một lá cờ là triệu người gìn giữ.

Một Việt Nam là muôn triệu tấm lòng.

Anh linh những anh hùng Liệt sĩ !

Có người đi không một tấm hình, không một dòng địa chỉ.

Có người khuất chẳng một nấm mồ, chẳng một lời biệt ly.

Các Anh chẳng để lại gì cho riêng mình trước lúc lên đường,

Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam hiên ngang cùng thế kỷ.

Tuổi mười sáu, đôi mươi gác lại mộng đời.

Mái trường còn đó, chiến trường đã gọi.

Có người viết huyết thư xin được xông pha.

Có người gia trai quyết vào quân ngũ.

Có người lấn tuổi, độn cân mong đủ điều kiện tòng quân.

Có người vừa mới yêu đã nguyện hy sinh vì Tổ quốc.

Có những em thơ làm giao liên giữa mưa bom bão đạn.

Có những Vệ quốc quân lấy thân mình che chở đồng đội.

Có những thanh niên xung phong mở đường trong mưa lửa.

Có những cô gái Đồng Lộc gửi tuổi xuân nơi đất đỏ.

Có bao người mẹ bạc đầu tiễn con đi mà chẳng một lần đón lại.

Có những người vợ mới cưới nương hạnh phúc riêng cho nghĩa lớn non sông.

Có người chưa kịp gọi hai tiếng mẹ cha lần cuối.

Có người chưa kịp báo hiếu đấng sinh thành.

Có người chưa kịp nên duyên chồng vợ.

Có người chưa kịp nhìn mặt đứa con đầu lòng

Có người thân gửi lại chiến trường.

Có người tên khắc vội trên ba lô.

Có người hóa mây ngàn không trở lại.

Có người còn nằm đâu đó giữa rừng sâu, biển thẳm, biên cương.

Từ Điện Biên đến Trường Sơn.

Từ Thành cổ Quảng Trị đến dòng Thạch Hãn.

Từ Tân Sơn Nhất đến biên cương phía Bắc.

Từ Gạc Ma sóng bạc đến biên trời Tổ quốc.

Nơi nào cũng in dấu chân người lính.

Nơi nào cũng thấm máu đào người Việt.

Các Anh ngã xuống cho Tổ quốc đứng lên.

Các Anh hy sinh để Nhân dân được sống.

Các Anh gửi tuổi xuân cho đất nước trường tồn.

Các Anh hóa thân vào hồn thiêng sông núi.

Máu các Anh nở thành hoa độc lập.

Xương các Anh kết thành dáng núi hình sông.

Hồn các Anh hòa cùng hồn thiêng dân tộc.

Danh các Anh sáng mãi với non nước Việt Nam..

Các anh ngã xuống!

Tổ quốc ghi công

Non sông khắc họa

Lịch sử lưu danh

Nhân dân tưởng nhớ

Vinh quang đời đời thuộc về các Anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh thân mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân!

Hôm nay, hậu thế chúng tôi:

Đốt nén tâm hương

Lòng thành tưởng niệm

Ôn lại lịch sử

Khắc dạ ghi lòng

Thiết soạn lễ nghi

Tụng kinh trì trú.

Ngưỡng nguyện anh linh các anh!

Hóa dân tộc trong tổ quốc thiêng liêng

Hóa màu xanh khát vọng hòa bình

Hóa tinh anh, tình hoa truyền thống

Luôn phù trì dân giàu nước mạnh, hòa bình, an lạc, dân chủ văn minh, toàn vẹn lãnh thổ, vững chắc bước vào kỷ nguyên vươn mình.

Lại nguyện:

Uy quang Tam Bảo, phá trừ vô minh, khai mở Phật tính.

Di Đà giáo chủ, từ quang tiếp dẫn, anh linh vãng sinh Cực Lạc.

Địa Tạng đại sĩ, mở cửa từ bi, cứu độ u minh, lìa khổ được vui.

Âm dương lợi lạc, pháp giới chúng sinh, đồng thành Phật đạo.

(Đại đức Thích Chánh Thuần – kính soạn!)

z8075801837494 214516c18f9f5f65bed5bf8831df739a

 

z8075705345796 24cda691da983e4425d4447f9b8a0d63

VĂN HỒI HƯỚNG CẦU SIÊU ANH HÙNG LIỆT SỸ

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM GIÁO HỘI PHẬT GIÁO…..

Phật lịch 2570 – Năm Bính Ngọ, tháng 7, ngày 27.

Nay tại: Nước Việt Nam, Thủ Đô Hà Nội, quận… phường… chùa

Chúng con là: …..cùng các hàng Phật tử nam nữ gần xa, vì cội nguồn hương hỏa quốc gia, vì việc siêu độ anh linh.

Nay vân tập tại thiết lập đàn tràng ….., trì tụng Kinh Điển Đại Thừa, xưng niệm Thánh Hiệu A Di Đà Phật, sắm sửa hương hoa đăng trà quả thực, dâng cúng mười phương Tam Bảo, làm lễ tiến cúng các bậc anh hùng Liệt Sỹ, nhân kỷ niệm … năm ngày Thương Binh – Liệt Sỹ (tiết Vu lan báo hiếu).

Trước đàn tràng, chúng con xin dâng hương hoa, vật phẩm thanh tịnh, hết lòng đỉnh lễ, nhất tâm cung thỉnh:

Nam mô Giáo Chủ cõi Sa Bà Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, xin chứng giám.

Nam mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật, xin chứng giám.

Nam mô Bản Tôn Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát, xin chứng giám.

Kính thỉnh các vị Thành Hoàng Làng, Thổ Địa nơi đây, Thần Long Mạch năm phương, các vị Tiền hiền, Hậu hiền, cai quản đất này, cùng về đàn tràng chứng giám.

Cùng anh linh các bậc Anh Hùng đã vì nước quên thân, các anh hùng Liệt Sỹ đã quên mình ngoài trận mạc, dù có tên tuổi hay không có tên tuổi, dù có nơi thờ hay chưa có nơi thờ, tất cả hương linh, đồng lai chứng giám, lĩnh chiêm công đức.

Chúng con cúi đầu nhớ rằng:

Đất Việt linh thiêng, hun đúc chính khí của các bậc anh hào,

Trời Nam dục tú, kết tinh tấm lòng son của bao người liệt sỹ.

Nhớ khi xưa:

Vận nước gian truân, gió mây vần vũ,

Thời thế hiểm nguy, bọm đạn dầy xéo.

Chí của người tráng sĩ, gác bút nghiên mà khoác áo nhà binh,

Lòng của bậc kiệt nhân, cởi áo thư sinh mà mặc áo chiến bào.

Thật vậy:

Có anh máu nhuộm đỏ dãy Trường Sơn, xương vùi nơi Cửa Việt,

Có bậc thân nát tan nơi Thành Cổ, mộng dở dang tại Khe Sanh.

Hoặc có người khi tuổi vừa đôi mươi, đã thân nơi núi thẳm rừng hoang,

Hoặc có bậc tuổi mới ba mươi, mà gửi xác nơi sông sâu biển cả.

Sống là bậc kiệt sỹ phi thường, thác hóa thành liệt vị anh hùng,

Công lao ở cùng non sông, danh thơm lưu trong sử sách.

Thương cho mẹ già tựa cửa ngóng con, nước mắt cạn, máu tim khô,

Xót cho người vợ trẻ bơ vơ nhớ chồng, hồn xiêu phách lạc.

Phật dạy rằng:

Kiếp người như giấc mộng, như bọt nước, như bóng chớp, có rồi lại không,

Việc đời như mây nổi, như chó chạy, như sương tan, sắc rồi lại không.

Nay gặp:

Ngày kỷ niệm 75 năm (tiết tri ân), bốn biển đã thanh bình,

Ba nghìn thế giới hân hoan, non sông gấm vóc.

Ấy là nhờ sự hy sinh của các Liệt Sỹ, chúng con mới được an cư lạc nghiệp,

Nếu không có máu và mồ hôi của người đi trước, sao có được quốc thái dân an hôm nay.

Vậy nên chúng con:

Một nén tâm hương, kính cẩn dâng lên trong đàn lễ,

Nửa dòng lệ nóng, xót xa tâu bạch trước Phật đài.

Cúi xin:

Đức A Di Đà từ bi tiếp dẫn, phóng ánh hào quang ngọc báu, đón các hương linh vãng sinh về nước Cực Lạc,

Đức Địa Tạng thương xót chúng sinh, cầm cây tích trượng bằng vàng, đập tan cửa ngục, cứu vớt các cô hồn.

Nguyện cho:

Ba đường khổ, tám nạn khổ, một lúc được giải thoát,

Chín phẩm hoa sen, tức khắc ngộ được lẽ vô sinh.

Chúng con lại xin nguyện:

Các Liệt Sỹ đã vì nước quên thân, anh linh chẳng mất, thấy việc nghĩa quên mình,

Sống đã là bậc kiệt sỹ, Thác là anh hùng muôn thưở, nương nhờ sức Tam Bảo, mau về cõi Sen Vàng.

Để cho hồn được dạo nơi Tịnh Độ, nghe kinh nghe pháp, thấu rõ lẽ vô sinh,

Phách được ở cõi Lạc Bang, làm bạn làm bè, cùng mau chứng đạo giải thoát.

Người âm được siêu thoát, người dương được thái bình,

Quốc gia hưng thịnh, dân chúng an vui,

Cả pháp giới chúng sinh, đều cùng thành Phật đạo.

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật (3 lần)

(ĐT – Kính soạn)