HƯƠNG ƯỚC CỦA THÔN LIÊN TRÌ VÀ THÔN THƯỢNG, XÃ THƯỢNG LÂM.

367
02/06/2026

GIỚI THIỆU VĂN BẢN HƯƠNG ƯỚC CỦA THÔN LIÊN TRÌ VÀ THÔN THƯỢNG, XÃ THƯỢNG LÂM

Thích Đạo Tâm

Trong dòng chảy văn hóa làng xã Việt Nam, Hương ước (Khoán ước, tục lệ, lệ làng) là những quy định “pháp lệ” dân gian được cộng đồng làng xã tự thiết lập, Nó có vai trò là công cụ điều tiết các hoạt động của cộng đồng cư dân nơi đó như: quan hệ xã hội, sản xuất, tín ngưỡng, đạo đức, .v.v. Theo các nhà nghiên cứu Hương ước đã xuất hiện ở Việt Nam muộn nhất cũng từ thế kỷ XV, tùy theo tiến trình phát triển của xã hội mà có sự cải biên cho phù hợp với giai đoạn lịch sử khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đưa ra sự phân kỳ của Hương ước thành 3 giai đoạn như sau; Giai đoạn 1: Hương ước cổ, từ thế kỷ XV – năm 1921, đây là những quy định của làng xã tự soạn thảo. Giai đoạn 2: Hương ước cải lương, từ năm 1921 – 1945, hương ước giai đoạn này được soạn thảo theo chỉ thị của chính quyền. Giai đoạn 3: Hương ước mới, từ những năm 90 trở lại đây.

Hương ước cải lương giai đoạn 1921-1945 thế kỷ XX, đây là phong trào cải lương hương ước do chính quyền bảo hộ chủ trương, khi nhận thấy làng xã Bắc kỳ có tính tự trị rất cao, cản trở việc thiết lập sự cai trị. Để xóa bỏ những bộ khung tự quản cũ, và thiết lập sự bảo hộ mới của nhà nước, chính quyền đã phối hợp cùng triều đình nhà Nguyễn phát động cuộc Cải lương hương ước (cải cách lệ làng). Phong trào này được thiết lập ráo riết từ những năm 1919 – 1920, và chính thức bằng nghị định 12/8/1921 của thống sứ Bắc Kỳ về cải cách tổ chức hội đồng kỳ mục các làng xã. Tuy nhiên trong ba giai đoạn về hương ước được các nhà nghiên cứu đưa ra như trên. Bên cạnh đó, Đào Phương Chi lại có quan điểm đưa ra thêm một giai đoạn đó là “Hương ước cải lương thí điểm”: từ 1905 – 1906 đến trước ngày 12/8/1921. Với kết quả thống kê bước đầu về mức độ cải lương trong 6 mục chính là: Lập hội đồng, Khao vọng, Hôn nhân, Tang ma, Sổ chi thu, Tế tự[1].v.v.

Bản hương ước của Thôn Liên Trì, và thôn Thượng xã Thượng Lâm, phủ Mỹ Đức, tổng Viên Nội, Tỉnh Hà Đông, được lập năm Khải Định thứ 5 (1920) mà chúng tôi khảo sát là hiện đang được lưu trữ tại thư viện Viện thông tin khoa học xã hội Việt Nam, có ký hiệu là HUN 274 (thôn Thượng), bao gồm 58  trang được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm, và Ký hiệu HUN 273 (thôn Liên Trì), gồm 60 trang, cũng được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm. Đây là một văn bản có giá trị rất lớn đối với việc nghiên cứu lịch sử Hương ước nói chung và lịch sử thôn Liên Trì và thôn Thượng xã Thượng Lâm cũ nói riêng. Theo các nhà nghiên cứu sự phân kỳ ra đời của Hương ước cải lương thì thông thường các bản Hương ước cải lương được ra đời sau nghị định năm 1921. Việc bản Hương ước cải lương ở Thượng Lâm được hoàn thành vào năm 1920 cho thấy đây chính là văn bản khoán ước thuộc đợt cải lương thí điểm mà Đào Phương Chi đã nhận định, giai đoạn này cũng do chính quyền và phủ Thống sứ Bắc Kỳ chỉ thị thực hành trước khi ban hành nghị định chính thức cho toàn xứ. Như vậy văn bản này ra đời vào giai đoạn “thí điểm”, nó có vai trò là mô hình thể nghiệm để chính quyền đo lường sự phản ứng và khả năng thích ứng định chế mới.

Anh2       Anh1

Ảnh: Văn bản hương ước lưu tại Thư viện Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, ký hiệu, HUN 274.

Anh5 Anh4 Anh3

Ảnh: Văn bản hương ước lưu tại Thư viện Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, ký hiệu, HUN 273.

Ảnh: Văn bản hương ước bản gốc thôn Thượng, được lưu trữ tại gia đình cậu Mai Văn Hưng (con cháu họ Mai) lưu trữ.

Về cấu trúc của văn bản Hương ước của thôn Thượng có kết cấu quy chuẩn tổng cộng 140 điều, của thôn Liên Trì gồm có 139 điều, và được chia làm 2 phần cốt nõi

Phần thứ nhất: Phần chính trị (hành chính); phần này quy định rõ về cơ cấu của Hội đồng tộc biểu, thẩm quyền của Phó lý trưởng, sổ thu chi, sưu thuế, sự vệ sinh, kiện cáo, vệ nông, .v.v. phân định giữa công sản và tư sản ví dụ như:

Điều thứ 25: Làng có tiêu bất thường, các tộc biểu phải mở hội đồng làm biên bản nói rõ vì có gì mà tiêu, là bao nhiêu, biên bản ấy phải đính ngay vào sổ chi tiêu bất thường số tiền quá số hai mươi đồng, thì những tờ biên bản ấy phải trình quan duyệt ý trước mới được thi hành. (Hương ước thôn Liên Trì).

Điều thứ 22: “chi thi không được quá dự định, mà phải cho rất là tiết kiệm, để rồi tiền công còn dư, làm tiền lưu trữ” (Hương ước thôn Thượng).

Điều thứ 78: “Khi trong làng có phát chứng bệnh, có thể truyền nhiễm, thì Lý trưởng phải trình quan nghè xin thầy thuốc chữa” (Hương ước thôn Thượng).

Phần thứ hai: Phần tục lệ (văn hóa- xã hội), phần này tập trung vào cải cách các tục lệ, cưới xin, ma chay, tế tự, các điều khoản phạt vạ khi vi phạm công quyền, .v.v. ví dụ như

Điều thứ 116: “Ngày hai mươi năm tháng 10 lệ hạ điền, sửa lễ một con gà năm đấu mễ một trai rượu” (Hương ước thôn Thượng).

Điều thứ 110: “Nhà nam sửa bốn lễ để lễ từ đường, nhà gái 2 lễ nội, 2 lễ ngoại, mỗi lễ giá một đồng bạc” (Hương ước thôn Thượng).

Điều một 116: Ngày hai mươi lăm, tháng mười, lệ hạ điền sửa lễ một con gà, năm đấu gạo, một chai rượu. (Hương ước thôn Liên trì).

Ngoài những giá trị cải biên rất tích cực của văn bản Hương ước này, và nhiều những giá trị khác cần tiếp tục được nghiên cứu thêm, thì văn bản Hương ước này còn là minh chứng xác định danh xưng hành chính và sự gắn kết chặt chẽ của hai thôn Liên Trì và thôn Thượng thuộc xã Thượng Lâm xưa. Nó lưu giữ nhiều cứ liệu về các dòng họ, tư duy lập lệ của tầng lớp tinh hoa của địa phương.

Mặt khác dù chịu sự áp lực của “cải lương” (thay đổi mới), bởi chế độ, nhưng những điều lệ trong khoán ước này chắc chắn sẽ được xuất phát từ những điều kiện, phong tục vốn có của cư dân mà không hoàn toàn bị theo điều luật áp đặt từ thống sứ, điều này cho thấy các bậc túc nho, kỳ mục của Thượng Lâm xưa rất khéo léo biến văn bản này thành một tấm lá chắn bảo vệ văn hóa bản địa.

Về mặt tích cực của Hương ước cải lương này, đã góp phần bỏ đi những hủ tục đè nặng lên vai người nông dân nghèo, điều này được thể hiện thấy rất rõ trong các việc như cưới gả, tang ma, bỏ bớt tục ăn vạ, chia ngôi thứ chốn đình trung theo kiểu “xôi thịt” cũ, điều này có thể thấy rõ ngay trong điều thứ 10 của hương ước như sau:

Được quá nửa số người trong ban dữ hội đồng thì có thể bàn việc, bàn xong thì phải giải tán ngay, không được ngồi lâu mà bày cục tửu phiền” (Hương ước thôn Liên trì).

Hoặc như

Điều thứ 118 : Các viên chánh phó tổng và người được phẩm ngự triết nạp tiền khao hai mươi đồng bạc, khao thủ kì trong thôn năm mươi đồng bạc, khao lý phó hương trưởng và trưởng chính ba mươi đồng, khao trương tuần mười năm đồng, những tiền khao ấy để làm công quỹ còn lệ trước phải làm rượu đãi cả thôn thì bỏ. (Hương ước thôn Thượng).

Những điều tương tự như trên đã giải phóng một phần nguồn lực kinh tế cho bách hộ, dảm sự nhiêu khê phiền hà cho việc làng.

Ngoài ra dù được cấu trúc Lệ làng theo mô hình thí điểm mới, nhưng tinh thần tương thân, tương ái, bổn phận hiếu đễ, kính lão, trọng học, và phụng thờ tín ngưỡng vẫn được bảo lưu trong khoán lệ. những điều ấy đã góp phần giữ gìn phát huy bản sắc truyền thống của con người đất Thượng Lâm.

Tóm lại, bản Hương ước năm 1920 (Khải Định năm thứ 5) của thôn Liên Trì và thôn Thượng, xã Thượng Lâm, tổng Viên Nội, phủ Mỹ Đức xưa kia, không chỉ là một văn bản pháp lý thuần túy, mà còn là một di sản Hán Nôm, phản ánh giai đoạn chuyển mình dữ dội của làng xã Việt nam nói chung và của cư dân vùng Thượng Lâm trước đây nói riêng. Đây cũng là nguồn tư liệu nền tảng vô giá để hậu học soi vào, trên cơ sở nền tảng của cha ông, tiếp tục xây dựng Hương ước mới phù hợp với đời sống hiện đại, làm quy chuẩn cho văn hóa mới của thôn Trì và thôn Thượng ngày nay.

Tài liệu tham khảo

  1. Vũ Duy Miền, Trịnh Thị Hà, Hương ước trong làng xã đồng bằng Bắc bộ nửa đầu thế kỷ XX, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 7 (104) – 2016.
  2. Nguyễn Thị Lệ Hà, Cải lương hương chính ở tỉnh Hà Đông – giai đoạn thử nhiệm (1013 – 1920), Việt nam Học – Kỷ yếu hội thảo quốc tế lần thứ tư.
  3. Đào Phương Chi, Tái phân kỳ văn bản cải lương hương ước Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8 – 2020.

(Phần nội dung toàn bộ Hương ước xem đầy đủ tại tác phẩm: Di Sản Hán Nôm và lễ hội Thượng Lâm)

 

[1] . Đào Phương Chi, Tái phân kỳ văn bản cải lương hương ước Việt Nam, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8 – 2020.