LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG: NƠI KHƠI DẬY VĂN HÓA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

575
12/04/2026

LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG: NƠI KHƠI DẬY VĂN HÓA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ LỊCH SỬ

Đạo Tâm.

Người Việt ta từ xưa đã có câu: “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”.Nếu bữa cơm cần bát canh để thêm đậm đà, thì đời sống tinh thần của người dân Việt cũng không bao giờ có thể thiếu đi sắc màu của lễ hội. Trên khắp dải đất hình chữ S, đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta, mỗi năm có đến hơn 8.000 lễ hội lớn nhỏ, tập trung chủ yếu vào dịp đầu xuân. Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, cả nước có khoảng 7.966 lễ hội, trong đó có hơn 7.000 lễ hội dân gian, trung bình mỗi ngày diễn ra hơn 22 lễ hội trên khắp các địa phương. Từ tiếng trống hội làng rộn rã ở đồng bằng Bắc Bộ, làn điệu dân ca Quan họ vùng Kinh Bắc, điệu hò khoan vạn chài miền Trung nắng gió, đến lễ hội Oc Om Boc, Sen Đôn Ta, rực rỡ của đồng bào Khmer Nam Bộ, .v.v.. Tất cả đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa sắc, nhưng đều cùng chung một nhịp đập tâm hồn dân tộc.

Lễ hội truyền thống không dừng lại ở những hoạt động vui chơi giải trí, mỗi lễ hội thực chất còn là một “cuốn sử ký” sống động bằng hình ảnh và cảm xúc, thông qua các nghi thức rước Thần, rước nước, diễn trận, .v.v.. Lịch sử dân tộc ta không chỉ nằm trong những trang sách khô khan, mà nó luôn hiển hiện, sống động qua từng lời ca, điệu múa và những nghi thức tế lễ trang nghiêm mà chúng ta thực hiện trong lễ hội ngày nay.

Mỗi lễ hội đều gắn liền với một sự tích, một vị anh hùng có công với dân với nước, hay những bậc tiền nhân có công khai hoang lập ấp. Khi ta trở về với Lễ hội đền Hùng, ta nhớ về cội nguồn dòng máu Rồng Tiên; khi hòa mình vào Hội Gióng, ta thấy lại hào khí chống giặc ngoại xâm của cha ông; trẩy hội đền Và  Sơn Tây ta thấy lịch sử chinh phục thiên nhiên qua hình ảnh Tản viên sơn thánh. Trở về hội Chùa Hương, Yên Tử, lễ hội Quán Âm Bồ Tát núi Ngũ Hành Sơn – Đà Nẵng ta thấy tôn chỉ của Từ bi, yêu thương,.v.v. Hay gần gũi hơn, ngay tại chính ngôi đình, ngôi đền của làng quê mình, lễ hội chính là lời nhắc nhở thế hệ con cháu về đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, tôn vinh những người đã đặt nền móng cho cuộc sống của cư dân, và sự yên bình của đất nước.

hội Lim
Hội Lim.

hoi giongHội Gióng

hoi Oc Om BocHội Oc Om Boc của đồng bào Khơmer.

Le Hoi sen don ta Khomer

lễ Hội Sen Đônta của đồng bào Khơmer.

z7634658197403 30b5d8ba1b7957b61cdd6213bcf38362 1

Lễ Hội Thượng Lâm Trang.

Chính từ những bài học lịch sử sâu sắc ấy, lễ hội đã trở thành sợi dây vô hình nhưng vô cùng bền chặt, gắn kết cộng đồng bằng sức mạnh của sự đoàn kết và lòng tự hào. Thực tế, mỗi làng quê, mỗi vùng miền lại có một cách tổ chức lễ hội riêng biệt: có nơi đua thuyền, có nơi đấu vật, có nơi lại hát giao duyên, .v.v.  Nghi thức rước Thần cũng có nhiều điểm khác biệt; có nơi thì kiệu đi thong dong, có nơi có kiệu xoay, kiệu chào nhau, có nơi chọn người ưu tú đại diện cho linh hồn của vị Thần để rước. Tất cả đều liên quan mật thiết tới lịch sử của các vị thần được tôn thờ tại nơi đó, và phong tục của địa phương, điều này gọi là “Lệ làng” – Phép vua thua lệ làng.

Thế nhưng, chúng ta cần hiểu rằng, sự khác biệt đó là sự đa dạng văn hóa, không phải để so sánh cao thấp, mà là để tôn trọng, học hỏi và phát huy. Chính những nét riêng biệt ấy đã dệt nên một nền văn hóa Việt Nam “thống nhất trong đa dạng”. Dù nghi thức có khác nhau, nhưng tất cả đều hướng tới một cái “đích” chung: đó là sự đoàn kết. Lễ hội là lúc xích mích ngày thường được xóa bỏ, tình làng nghĩa xóm được thắt chặt. Rộng hơn, đó là sự giao thoa, gắn kết của 54 dân tộc anh em, tạo nên sức mạnh nội tại giúp dân tộc ta vững vàng qua mọi biến cố.

Tuy nhiên, để những giá trị tốt đẹp đó không bị mai một theo thời gian, trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn đang đặt lên vai mỗi người dân chúng ta. Lễ hội chỉ thực sự khơi dậy được văn hóa khi nó giữ được nét đẹp thanh cao, thuần túy. Điều này đòi hỏi mỗi chúng ta khi tham gia lễ hội cần có thái độ văn minh: tôn trọng sự khác biệt của các nền văn hóa địa phương, giữ gìn sự trang nghiêm của di tích, và tuyệt đối bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan. Quan trọng hơn cả, chúng ta cần trao truyền lại ngọn lửa đam mê và sự hiểu biết về lịch sử, văn hóa của lễ hội nơi ấy cho thế hệ trẻ, và các thế hệ con cháu, để các thế hệ hậu duệ hiểu rằng tham gia lễ hội không chỉ là đi chơi, mà là đang hòa mình, tiếp nối vào dòng chảy văn hóa tinh thần lịch sử của cha ông.

Tóm lại: Lễ hội truyền thống chính là “chứng minh thư” tâm hồn của mỗi vùng quê, là niềm kiêu hãnh của mỗi người con khi đi xa. Chúng ta giữ gìn lễ hội chính là giữ gìn gốc rễ, giữ gìn bản sắc để không bị hòa tan trong dòng chảy văn hóa hiện đại, ngoại lai.

Hy vọng rằng, mỗi mùa lễ hội đi qua, lòng người lại thêm ấm áp, tình làng nghĩa xóm thêm bền chặt, và hồn cốt của dân tộc Việt Nam ta lại càng thêm rạng rỡ, trường tồn.